Category Archives: CÂY THUỐC KHÁNG KHUẨN

BAN

HOA BAN

Picture1
BAN
Tên khác: Nọc sởi, Cỏ vỏ lúa
Tên khoa học: Hypericum japonicum Thunb
Họ Măng cụt – Clusiaceae

Bộ phận dùng: Toàn cây
Công dụng: Thường được dùng trị viêm gan cấp và mạn, giai đoạn sớm của sơ gan cổ trướng,viêm gan thể hoàn đản, viêm ruột, viêm màng tiếp hợp cấp, viêm amidan, viêm ruột thừa.
Bài thuốc hiệu nghiệm:
I. Chữa viêm gan thể hoàn đản:
1/ Ban, Kê cốt thảo ( Cườm thảo mềm), Kim tiền thảo, đều 30g. Nấu nước uống.
2/ Ban, Cỏ roi ngựa, Mã đề, đều 30g, Chi tử, Rau má mỡ, đều 10g. Sắc nước uống
3/ Ban 60g. Nấu nước, hòa thêm một ít đường uống. Dùng liên tục 15 ngày
4/ Ban, Mã đề ,đều 15g, Rễ cỏ tranh, Chi tử, đều 12g. Nấu nước uống
5/ Ban, Kê cốt thảo, Chi tử, đều 30g. Hầm với xương lợn, lấy nước uống
6/ Ban 60g, Rau má 15g, xương lợn 500g. Nấu nước uống
7/ Ban 30g, Viễn chí 15g. Nấu nước uống
8/ Ban, Âm hành thảo, Địa đào hoa căn ( Ké hoa đào) đều 30g, Rễ dành dành, Hoàng mao nhĩ thảo, đều 15g. Nấu nước uống
9/ Ban 30g, Kê cốt thảo, Nhân trần Trung Quốc, đều 15g, Chi tử 10g, Trần bì 6g, Cam thảo 5g. Nấu nước uống, liên tục 30 ngày
10. Ban, Rễ cốt khí, đều 15g. Nấu nước uống
II. Viêm gan mạn tính:
Ban 60g, Đại táo 30g, Xuyên tiêu, Kê huyết đằng đều 10g. Nấu nước uống
III. Viêm gan mạn tính, vùng gan rất đau vào thời kỳ gan chớm bị xơ cứng:
Ban 40-80g cỏ tươi sắc uống
IV. Viêm gan mạn tính, da vàng xám, đau ở vùng gan, kém tiêu, da bụng dày, đại tiện có khi táo, đái vàng sẻn:
Ban, Nhân trần, Đơn gối hạc, Vú bò xẻ, rễ Bùm bụp, vỏ Núc nác, Mộc thông, đều 20g sắc uống
V. Viêm gan thể hoàng đản, viêm gan thể không có hoàn đản, viêm gan kéo dài và viêm gan mãn tính:
Ban, Âm hành thảo, hoàng mao nhĩ thảo, Rễ dành dành, đều 15g. Nấu nước uống
VI. Hoàng đản vàng da:
Ban, Hài nhi cúc, đều 20g, Rễ bỏng nẻ, đều 30g. Nấu nước hòa thêm đường uống. Hoặc gia rễ cốt khí 20g, cùng nấu uống

HẠ KHÔ THẢO

hạ khô thảo
Hạ khô thảo – Hầu hoa
Xia ku cao
Prunella vulgaris L
Lamiaceae

Bộ phận sử dụng :
Gié hoa
Đặc tính trị liệu :
Theo y học truyền thống :
● hạ khô thảo có tính chất trong hương vị :
– vị đắng
– và cay
– tính hàn trong bản chất tự nhiên,
– không độc.
hoạt động vào :
– kinh can ( gan ),
– và hệ thống túi mật
● Vị đắng và hàn có đặc tính :
– giải nhiệt
– hạ hỏa
● Vị cay có đặc tính giải quyết những cục u cứng .
Hạ khô thảo có thể hạ hỏa quá nhiều từ gan và túi mật để :
– cải thiện nhản lực,
– và giảm “ ứ-niêm dịch-đốt cháy ” để loại trừ chứng bệnh tràng nhạc hay lao hạch
( là một bệnh lao hạch ở cổ, có đặc điểm là có nhiều hạch nổi lên thành chuỗi ở cổ, phía dưới tai, xuống hàm, vòng lên tận bên tai đối diện, giống như cái nhạc ngựa nên có danh từ là tràng nhạc.
Theo Đông y cho rằng, nguyên nhân do vị trí bệnh nguồn gốc do can ( gan ), đởm ( mật ). Can khí uất kết làm cho tân dịch bị ngưng tụ thành đờm sinh bệnh, khí uất lâu ngày thành hỏa, ảnh hưởng đến phần âm, xuất hiện chứng âm hư nội nhiệt, hạch không tiêu thành mủ vở ra khó liền miệng biến thành xẹo – Theo định nghĩa của y học dân tộc Việt Nam ).
● Hạ khô thảo một dược thảo quan trọng để chữa :
– những tắc nghẽn kết mạc
– những chứng đau đầu,
– và những chứng bệnh tràng nhạc ( lao hạch hay loa lịch ) do sự ứ đờm đốt cháy
– chữa trị mụn nhọt có mủ,
– lỡ loét,
– giãi trừ nhiệt độc ở tử cung.
● Tác dụng hìệu nghiệm :
– hiệu quả giải trừ đến tim-gan.
– thanh can hỏa ( hạ nhiệt ở gan )
– giảm sưng,
– và giải quyết những nốt u cứng .
– cải thiện nhản lực,
– tiêu ứ,
► Hiện nay ngoài dùng để trị bịnh hoàng đản cấp tính, sưng gan,
● Hạ Khô Thảo còn có tính chất :
– sát trùng nên được dùng để rửa vết thương ngoài da.
▪ hoặc bị đánh bị thương dùng Hạ Khô Thảo tươi tán nhỏ đắp vào vết thương.
Hạ khô thảo là một loài thực vật ăn được và là một dược thảo, cây có thể dùng như salade, nấu súp, \ hay luộc như nhũng loài rau khác.
Hạ khô thảo sử dụng như một loại thuốc thay thế từ nhiều thế kỷ hầu hết các lục địa của thế giới và gần như chữa lành cho những con bệnh,
Người ta thu thập những bộ phận trên không vào mùa hè khi cây trổ hoa và dùng nó để chữa trị :
● Toàn cây là một thuốc có công dụng như :
– kháng khuẩn
– chống sốt
– sát trùng
– chống co thắt
– se thắt
– thuốc tống hơi
– lợi tiểu
– hạ sốt
– giảm nhiệt hạ sốt
– hạ huyết áp cao
– kiện vị, bổ bao tử
– thuốc bổ
– kích thích hệ thống miễn nhiễm
– trừ giun sán
– và làm lành vết thương
– ghẻ phỏng hay thủy bào chẩn
– ung thư
– sida
– tiểu đường
– bệnh dị ứng
– chống viêm sưng
– chống siêu vi khuẩn
– thuốc làm se thắt astringent, chủ yếu làm giảm sự xuất huyết.
– và bệnh kiết lỵ
– đau miệng và cổ họng,
– viêm dạ dày
– loét hệ tiêu hóa
– nội xuất huyết
– những bệnh yếu gan và tim.
– bệnh trĩ nội
– bệnh ho,
– và những bệnh khó chịu do cảm lạnh.
– cho bệnh sốt
– viêm thanh quản
– hay bạch hầu
– đau bụng
– và co giật
– cho mụn trứng cá acné
– cho những rối loạn hệ gan và yếu gan.
– bệnh vàng da
– cho bệnh viêm gan
– cho sự tắc nghẽn hệ bạch huyết
– chữa bệnh huyết áp động mạch cao
– Trong trường hợp nội xuất huyết giới hạn
– Trường hợp tiêu chảy
– đầy hơi
– và bệnh thống phong
– điều trị chứng chóng mặt
– Trường hợp ký sinh trùng
– trường hợp nhiễm độc thực phẩm ( nhất là sau khi ăn quá nhiều thực phẩm chiên xào )
▪ Những phẩm chất làm dể tiêu kiện vị cũng được sử dụng để :
– giảm đau quặn dạ dày :
– và chứng ợ chua
– giảm tiêu chảy
– và nôn mửa
Ngâm trong nước lạnh lá hạ khô thảo tươi cắt nhỏ hay sấy khô và nghiền nát thành bột là một thức uống rất ngon và mát.
● Như tên gọi “ heal-all ” cho thấy, đã từ lâu, cây được sử dụng trong y học dân gian, cho một loạt các triệu chứng và nói chung chung là chữa bách bệnh.
▪ Những triệu chứng thường gặp gồm :
– bệnh thấp khớp
– những vấn đề về mắt
– sưng hạch
– những vấn đề đường tiểu
▪ Đồng thời hạ khô thảo được sử dụng như :
– một thuốc kháng sinh
▪ Thậm chí ngày nay, đôi khi được dùng để chữa trị những vết thương nhỏ như :
– vết phỏng hay những vết bầm tím
– và dùng như nước súc miệng cho trường hợp loét miệng
▪ Thuốc dán “ tự chữa lành ” được áp dụng cho :
– những vết thương để thúc đẩy mau lành.
▪ Theo y học Trung hoa, hạ khô thảo được xem như là :
– một thuốc kháng sinh
– một dược thảo thay thế, có thể “ thay đổi quá trình của một bệnh mãn tính”.
● Phân tích hóa học cho thấy cây có hoạt động kháng khuẩn, ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn :
– Pseudomonas,
– Bacillus typhi,
– E. coli,
– Mycobacterium tuberculi,
● Hỗ trợ như là một dược thảo thay thế sử dụng cho bên trong và bên ngoài cơ thể, một loại thuốc kháng sinh và cho những trường hợp khó có thể chữa trị lành những vết thương và những bệnh.
● Tuy nhiên, người ta không tìm thấy một nghiên cứu dứt khoát về những đặc tính chữa bệnh.
Kinh nghiệm dân gian :
Trong dân gian hạ khô thảo được xem như thuốc :
– chống oxy hóa
– chống ung bướu
▪ Cây được sử dụng để chữa trị những bệnh :
– những rối loạn thận
– ung nhọt
– loét da
– và loét miệng
– viêm cổ họng
– sốt
– co giật
– những vết thương bên trong
– và ký sinh trong ruột
– huyết áp động mạch cao
– sưng quai bị
– viêm vú
– sự choáng váng
– chóng mặt
– ở những trẻ em hiếu dộng thái quá.
▪ Cũng như giúp chữa trị :
– viêm nướu
– phỏng
– vết thương nhẹ
– viêm da
– vết cắn chích
– vết bầm tím
– những bệnh trĩ
– và bệnh rong kinh
Và cây cũng có tác dụng chống ung thư
● Những nghiên cứu chỉ cho thấy hiệu quả “ Heal-all ” Bách bệnh có thể giúp :
– giảm những triệu chứng bệnh VIH
– và tăng năng lượng cho những bệnh nhân.
● Nước sắc có thể có tác dụng ức chế ở mực độ khác nhau trên các vi khuẩn như:
– Shigella dysen teriae
– Salmonella typhi
– Vibrio cholerae
– Escherichia coli
– Mycobacterium tuberculosis var. hominis,
– và staphylococci.
● Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng hạ khô thảo rất hiệu nghiệm trong điều trị vi khuẩn :
– mụn nước hay ghẻ phỏng đơn giản
– trong mụn nước ở miệng
– và mụn nước ở hệ sinh dục
► Trong dược điển “ Le livre Herb, của nhà thiên nhiên liệu pháp John Lust, xác định auto-guérison, như là những đặc tính như sau :
▪ chống co rút ( giảm co thắt )
▪ chất làm se astringentes ( giảm bài tiết réduit les sécrétions)
▪ thuốc bổ đắng ( tăng khầu vị bửa ăn và thúc đẩy sự tiêu hóa )
▪ lợi tiểu ( gia tăng dòng nước tiểu)
▪ cầm máu ( làm ngưng chảy máu)
▪ thuốc trục giun sán ( trục những ký sinh trong ruột )
▪ làm lành vết thương
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Hạ khô thảo có nhiều phẩm chất tốt. Nhưng việc sử dụng nên cần có một số cân nhắc :
● Những phụ nữ mang thai, hay trong thời gian cho con bú và những trẻ em.
Ví dụ như : không nên mạo hiễm dùng nước ngâm trong nước đun sôi hay nước nấu sắc mà không hỏi ý kiến của những người chuyên môn, y sỉ, bác sỉ lần đầu tiên dùng.
Thật vậy,
– một số chất độc hại có chứa trong cây có thể gây ra những phản ứng bất lợi cho con bệnh.
– những dung dịch trích trong nước hay trong alcool của cây hạ khô thảo có thể làm hạ huyết áp.
Ứng dụng :
Lợi ích cho sức khỏe :
● Với một sử dụng trong nấu ăn ẩm thực ( dùng như salade như tất cả các cây khác ).
● Ngoài ra hạ khô thảo được sử dụng bên trong và bên ngoài cơ thể cho các mục đích y dược khác nhau liên quan với :
▪ đặc tính chống oxy hóa
▪ tính chất kích thích và là một sử dụng chánh kích thích hệ thống miễn nhiễm, như là một thuốc bổ đắng .
● Sử dụng bên ngoài cơ thể, cây hạ khô thảo được dùng với lý do những đặc tính của cây :
– kháng siêu vi khuẩn
– và kháng khuẩn
Trong những điều kiện dưới đây :
– cho những vết bầm tím
– vết cắt đứt
– vết thương ( bôi trên vết thương ),
– cho vết phỏng
– hay những phản ứng của dị ứng ( như phát ban ở da)
– Trong trường hợp nhiễm trùng ở miệng
– và những vấn đề nướu răng ( loét miệng, đau họng)
– viêm nướu
– cũng được xem như dung dịch rửa mắt trong trường hợp viêm kết mạc
● Hạ khô thảo thường được dùng dưới dạng :
– thuốc dán
– rửa
– thuốc mỡ
– hay dưới những dạng bào chế khác .
BÀI THUỐC HIỆU NGHIỆM Ở TRUNG QUỐC
1. viêm gan cấp tính thể hoàng đản
Hạ khô thảo, đại táo đều 60g. nấu nước uống. Liên tục 10-15 ngày
2. viêm gan cấp tính thể hoàng đản và không hoàng đản:
Hạ khô thảo 15g, sài hồ, nhân trần hao, hài nhi cúc, rễ cỏ tranh, củ cốt khí, đều 10g, cam thảo 6g, nấu nước uống.
3. đề phòng viêm gan
Hạ khô thảo 15g, nhân trần cao, cam thảo đều 10g. nấu nước uống. Cách 4 ngày dùng 1 tễ. Liên tục 5 tễ

MUỒNG TRÂU

muồng trâu
Muồng trâu – Muồng xức lác
Cassia alata L.
Senna alata (L)Roxb.
Fabaceae

Bộ phận sử dụng :Lá, hoa, trái, vỏ trái và hạt muồng.
Đặc tính trị liệu :
Cây muồng trâu có những công dụng như :
– Nhuận trường,
– chống ngứa,
– hóa sẹo lành vết thương
– kháng khuẩn,kháng nấm.
– chống viêm sưng,
– chống di ứng.
● Một tác dụng trực tiếp vào niêm mạc không được ghi nhận nhưng những công việc nghiên cứu vẫn tiếp tục trên tiềm năng độc chất của anthraquinones.
Đây là một đơn thuốc mạnh để chữa trị những bệnh về da khác như :
– chứng chóc lỡ,
– chứng loét xứ nóng nhiệt đới,
– mụn nước bạch tiển herpès circiné ( do nấm Trichophyton ở da ) ,
– ký sinh trùng ở da nhiễm.
– vết thương bị nhiễm,
Muồng trâu cũng có đặc tính chống ký sinh trùng : Gale, Bọ ve tiques
► phương cách nấu sắc, dùng cho đặc tính nhuận trường.
Những bộ phận có đặc tính đặc thù hơn :
Hạt :
– tẩy xổ
– trị bón.
Rể :
– trục giun sán
– dùng cho bệnh lậu,
– bệnh nhiễm trùng.
Vỏ :
– bệnh đau đầu.
– bệnh vàng da.
Lá :
– hư thai.
– bệnh táo bón
– sổ mũi
– đau cổ họng.
● Hoa trồng để quyến rủ loài ong hút mật trong những làng để trang trí và để dùng làm thuốc.
Hiệu quả xấu và rủi ro :
Khi sử dụng muồng trâu cần chú ý :
● Sử dụng trong nội tạng phải được theo dỏi,
● Không dùng trong một thời gian lâu dài,
● Cây muồng trâu là một chất có thể làm hư thai nếu sử dụng bên trong cơ thể. Nên những đàn bà có thai không được dùng.
● Dùng bên trong, những trẻ em còn nhỏ và người già không nên dùng.
Sử dụng bên ngoài cơ thể không có vấn để, không gây ra những nguy cơ có hại.
Thận trọng :
Những thuốc nhuận trường, dược thảo, do sự chế biến, được sử dụng trong nội tạng không nên sử dụng lâu ngày ( không quá 10 ngày ).
Dùng lâu có thể nguyên nhân ảnh hưởng :
– không hiệu quả,
– thứ nữa ảnh hưởng đến những quy định trong hệ tiêu hóa:
– đến chế độ ăn uống ,
– chất nhày trong trong cơ quan tiêu hoá,
– độ kiềm ( mặn )
– kích thích bài tiết, điều hoà tiêu hóa chất béo,
– lợi mật.
Ứng dụng :
– Lá muồng trâu có tác dụng giải nhiệt,
Đối với những bệnh ngoài da :
– loét,
– chóc lỡ,
– thủy bào chẩn hay mụn nước,
– nấm ngoài da teigne,
– lỡ loét bệnh giang mai.
► Chống những bệnh ngoài da :
● Đối với những bệnh này, người ta khuyên nên áo bên ngoài vùng bị nhiễm bệnh bằng một lớp lá được nghiền nát, hay chà xát lên da bằng hoa tươi nghiền nát.
● Người ta cũng có thể xay lá trong nước ấm và bào chế như kem dùng vào nơi bị ngứa kích ứng 3 hay 4 lần / ngày.
► Đau cổ họng :
Dung dịch nước ép lá nghiền nát, lọc và pha loãng, là một chất nước dùng để súc miệng trị đau cổ viêm họng rất hiệu quả.
► Táo bón :
● Nấu sắc : sử dụng cho người lớn, nấu 20 g cho 1 lít. Uống 1 ly trước khi ngủ.

CÁT CÁNH

IMG_0022

IMG_0023
Cát cánh
Platycodon grandiflorus (Jacq.) A.DC.
Campanulaceae

Bộ phận sử dụng : Rễ

Đặc tính trị liệu :
● Để chữa trị cho những bệnh :
– bệnh ho
– long đờm
– những bệnh cảm lạnh,
– những bệnh nhiễm trùng đường hô hấp bên trên
– đau cổ họng
– viêm tuyến hạch hầu 2 bên mang tai
– và tắc nghẽn ở ngực.
▪ Rễ :được sử dụng chữa trị với những chức năng :
– làm se thắt
– diệt giun sán
– cảm lạnh- bệnh cúm
– chống ho
– hoạt động hạ huyết áp
– chống lên cơn suyễn
– chống cholestérol trong máu
– hạ đường máu
– tán huyết
– chống viêm
– thuốc tống hơi
– long đờm
– và viêm phổi
– viêm phế quản
– viêm sưng màng phổi
– ung mủ phổi
– làm an thần
– thuộc về dạ dày
– thuốc bổ
– giản nở mạch máu phế quản
– ho có nhiều đàm
– hiệu quả giảm đau
– và nhiễm trùng cổ họng ( dùng kèm với Cam thảo ),
– sự hình thành những chất nhầy quá nhiều trong cổ họng,
– đau cổ họng
– ung mủ ở miệng
– ung mủ cổ họng
– viêm tuyến hạch hầu
– viêm loét nướu răng
– bệnh kiết lỵ
– và những đau nhức trong vùng ruột
– khàn giọng
– nặng trong ngực e,
– ngực và đau bên hông ▪
● Tác dụng dược lý hiện đại của Rễ Cây Cát Cánh Balloon :
– bảo vệ thần kinh
– chống siêu vi khuẩn
– kháng khuẩn
– chống nấm
– chống ung thư
– chống dị ứng,
– cải thiện sức đề kháng với insuline,
– hạ nhiệt
– chống bệnh suyễn
● Tác dụng liên quan đến tuần hoàn và máu : chất platycodin có hiệu quả tán huyết mạnh, những qua đường uống sẽ bị thủy phân và mất tác dụng
● Tác dụng liên quan đến những bệnh da và hệ miễn nhiễm : cải thiện được thực bào và đại thực bào, gia tăng khả năng diệt khuẩn của những bạch cầu trung tính, ngăn ngừa loét căng thăng, cải thiện hoạt động của dung tố lysozyme là một phân hóa tố xúc tác phá hủy tế bào của vi khuẩn nhất định
● Tác dụng liên quan Ung bướu : cây ở dạng bột được dùng trong những vết loét của khôi u ác tính
● Tác dụng liên quan đến hệ tiêu hóa và thần kinh :
– khó tiêu
– loét dạ dày
– bệnh kiết lỵ
– bệnh dịch tả
– đau bụng
– buồn nôn
● Những hoạt động liên quan hệ hô hấp và những bệnh khác :
– bệnh viêm phế quản
– và những bệnh của hệ hô hấp khác
– chống ho
– và thư giản cơ trơn
– gia tăng hành động chống viêm
▪ Rễ Cây Cát cánh chứa chất platycodin, có sự kích thích trực tiếp trên :
– miệng
– cổ họng
– và niêm mạc dạ dày

Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong y học dân gian, những trích xuất của những Rễ Cây Cát cánh được sử dụng như chữa trị
– chống ung thư
– Làm chậm đi sự tăng trưởng của những tế bào ung bướu khối u người
– cao huyết áp
– và bệnh tiểu đường
– viêm phế quản
– bệnh suyễn
– bệnh lao phổi
▪ Trong y học cổ xưa Tàu, ngày nay người ta sử dụng trong những đơn thuốc cầu chứng sáng chế ở bên Tàu.
– thuốc ức chế ho
– và là một thuốc long đờm ho bệnh cảm lạnh
– ho
– đau cổ họng
– viêm tuyến hạch hầu ( tuyến 2 bên cuống họng )
– và tắc nghẽn ngực

Hiệu quả xấu và rủi ro :
● Phàn ứng phụ có thể có ở Cây Cát cánh :
▪ Những bệnh nhân mắc bệnh ho ra máu, không nên sử dụng Rễ Cây Cát cánh
▪ Không nên sử dụng như một thuốc cho bệnh ho mãn tính.
● Chống chỉ định :
Không có thông tin được cung cấp.
● Cảnh báo :
▪ Trích xuất Rễ Cây Cát cánh có một hiệu quả tán huyết rất rõ rệt, và do đó thuốc chế biến từ cây này phải đước dùng qua đường uống, không được sử dụng trực tiếp qua đường tiêm chích vào trong nội phúc mạc.
▪ gây ức chế hoạt động của hệ thần kinh trung ương
BÀI THUỐC THÔNG DỤNG :
1. trị ho suyễn cố đàm
Cát cánh 60g, tán bột, sắc với nửa chén Đồng tiện, uống lúc nóng (Giản Yếu Tế Chúng phương).
2. trị chân răng sưng đau, lợi viêm loét
Cát cánh tán bột, trộn với nhục Táo làm thành viên, to bằng hạt Bồ kết, xong lấy bông bọc lại, ngâm thêm với nước Kinh giới (Kinh Nghiệm phương).

CÂY BÒN BỌT

1. Kinh nghiệm nhân dân về cây Bòn bọt

Theo tài liệu đã biết thì cây Bòn bọt được dân gian sử dụng làm thuốc lợi tiểu, chữa phù tim, phù thận, điều trị rắn cắn, và còn được dùng điều trị tiêu chảy, nhất là ở trẻ nhỏ bị đi lỏng có kèm theo máu và bọt. Trong lá và thân, rễ Bòn bọt có tanin loại pyrocatechic, cả cây có saponin thuộc loại sterolic, trong lá còn thấy có flavonoid.

 

bòn bọt

Cây Bòn bọt

2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của cây Bòn bọt

Mẫu nghiên cứu thu hái vùng Bắc Thái; hoạt tính kháng khuẩn tan được trong nước, không bị nhiệt độ sôi phá hủy. Nước sắc càng cô đặc cho tính kháng khuẩn cao.

Cao nước ở nồng độ pha loãng 1% có tác dụng với các vi khuẩn sau: Shigella shigae, Shigella flexneri.

Nghiên cứu về độc tính cấp, Phạm Các và Nguyễn Văn Táo (1981) nhận thấy LD50=13g/kg cơ thể súc và thí nghiệm bằng đường uống. Chế phẩm ít độc. Các tác giả đã bào chế từ cao nước dưới dạng viên nén, đặt tên là Entoglochidin, có hàm lượng là 0,1g.

3. Nghiên cứu lâm sàng

Nguyễn Văn Mân (1981) đã dùng chế phẩm Entoglochidin điều trị cho 26 trường hợp có hội chứng lỵ được chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm phân, trước khi điều trị và sau khi ra viện. Kết quả thu được như sau:

26 bệnh nhân (tuổi từ 1 đến 50) được điều trị khỏi 22; trong đó 7 bệnh nhân có Shigella flexneri dương tính thì 6 bệnh nhân khỏi hoàn toàn, sạch vi khuẩn thông qua 2 lần xét nghiệm âm tính.

Nhận xét về tác dụng của chế phẩm Entoglochidin tác giả thấy có tác dụng điều trị hội chứng lỵ. Thời gian điều trị trung bình 5 đến 7 ngày, thước dung nạp tốt, không gây phản ứng xấu cho cơ thể.

Bòn bọt cũng có thể dùng ở dạng lá khô hay lá tươi sắc uống để trị lỵ như nhân dân vẫn làm, liều lượng lá khô 15 đế 20g, lá tươi 150 đế 200ml chia 2 lần uống trong ngày.

bòn bọt

4. Các nghiên cứu khác về tác dụng của Bòn bọt

Tại quân y viện 108 và bệnh viện Bắc Giang đã dùng Bòn bọt để chữa một số trường hợp phù thận do thiếu dinh dưỡng và phù do suy tiim có kết quả, tuy số trường hợp theo dõi chưa nhiều nhưng cách dùng đơn giản và cho kết quả rất khả quan. Cách dùng như sau: là Bòn bọt khô 100g sắc với 900ml nước cô lại còn 300ml; ngày dùng trung bình 100ml nước sắc tương đương với 30g lá khô. Đã dùng điều trị cho 11 trường hợp phù thận kinh, bị phù đi phù lại nhiều lần lâu ngày, ure huyết lên tới trên 1g/lít. Chữa 8 trường hợp phù tim, khỏi 3, không khỏi 4, 1 trường hợp chết do bệnh van tăng mao nặng và chết trong 2 ngày vào viện.

Điều trị cho 3 trường hợp phù thiếu dinh dưỡng khỏi cả 3.

Các tác giả đã đi đến kết luận: Bòn bọt có tác dụng lợi tiểu rõ rệt, đặc biệt trên phù thận kinh và phù do thiếu dinh dưỡng làm phù rút nhanh chóng, thường có tác dụng từ ngày thứ 2 thứ 3 trở đi. Sau khi rút hết phù, số lượng nước tiểu có rút xuống, nhưng không phù trở lại.

Trên phù thận, sau khi khỏi phù trong nước tiểu vẫn còn những chất bất thường.

Phù suy tim cho kết quả thất thường, đối với trường hợp suy tim mới còn bù thì có kết quả, phù do suy tim lâu do các van tim thì không thấy kết quả.

Thời gian rút phù trung bình là 15 ngày với những trường hợp phù toàn thân. 7 ngày với những trường hợp phù nhẹ ở chân và ở mật.

Các tác giả nhận xét không thấy biến chứng gì khác về lâm sàng trong khi sử dụng thuốc Bòn bọt.

Trích “Thuốc Chữa Bệnh Nhiễm Khuẩn Từ Cây Cỏ Trong Nước”

CÂY CÀ CHUA

Cây Cà chua có nguồn gốc ở Peru (Nam Mỹ) được nhập trồng vào nhiều nước nhiệt đới. Cà chua đem vào trồng ở nước ta vào cuối thế kỷ 19 ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và một số vùng núi cao. Gần đây ta nhập giống của Ba Lan, Hungari, Nhật Bản và Trung Quốc. Cây trồng chủ yếu lấy quả làm thực phẩm vì có giá trị dinh dưỡng cao

Hoa Cà chua

Hoa Cà chua

1. Kinh nghiệm nhân dân

Cà chua dùng để giải nhiệt, trị suy nhược chống hoại huyết, chống nhiễm khuẩn, nhiễm độc, dùng làm thuốc chữa thống phong, thấp khớp, sỏi niệu, sỏi mật, dùng ngoài chữa trứng cá, chữa các vết sâu bọ cắn.

Từ những cây họ cà (Solanum) nhiều tác giả nước ngoài đã chiết được một loại hoạt chất đặt tên là “Tomatin”.

Tomatin là một alcaloid steroid có hoạt tính kháng khuẫn và chống viêm, và cũng còn dùng làm sản phẩm trung gian để tổng hợp các loại hormon steroid. Tomatin có nhiều trong cây Cà chua.

2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẫn của cà chua

Tomatin có tác dụng với vi khuẩn Gram(+) (Bacillus subtilis) và tác dụng với một số nấm: Microsporum gypseum, tít tác dụng với Trichophyton crateriforme ( gây bệnh hắc lào); ở nồng độ 1:4000 còn có tác dụng với nấm Candida albicans [220;229;240]

Theo R. Tschesche (1970) thì tác dụng của tomatin đối với các loại nấm sau:

Giống nấm Số chủng Tomatin
Đường kính vô khuẩn (m/m) Nồng độ ức chế tối thiểu microgram/ml
Candida albicans 504 6 1000
Aspergillus niger 533 4 1000
Trichoderma mentagrophytes 526 7 16
Mivanuratest   16  

 

Không thấy có tác dụng với Staphylococcus aureus 209. St. aureus 2438; Es.coli và pseudomonas aeruginosa.

Nguyễn Gia Chấn, Bùi Kim Chi và cộng sự (1978) đã chiết tomatin từ cây cà chua Việt Nam. Xác định được hàm lượng trung bình ở lá 1,33%, hỗn hợp cành và lá 0,73%

Các tác giả cũng chứng minh tác dụng chống viêm, giảm đau của tomatin.

Tomtin rất ít độc, phạm vi an toàn trong điều trị rất lớn, với liều gấp 20 đến 40 lần tác dụng cũng không gây chết chuột thí nghiệm và cũng không có biểu hiện nhiễm độc

3. Nghiên cứu lâm sàng

cà chua

Tomatin được sử dụng điều trị dưới dạng thuốc tiêm, thuốc phun sương, thuốc mỡ, thuốc viên nén, thuốc trong dầu để chống virus.

Trích “Thuốc Chữa Bệnh Nhiễm Khuẩn Từ Cây Cỏ Trong Nước”

CÂY CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA

Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang khắp nơi, đồng bằng và thượng du, tỉnh nào cũng có.

Cây chó đẻ răng cưa

Cây chó đẻ răng cưa

1. Kinh nghiệm nhân dân

Nhân dân ta rất hay dùng cây Chó đẻ răng cưa làm thuốc, giã nát cả cây với một ít muối đắp chữa đinh râu, mụn nhọt và rắn cắn, nấu cao uống có tác dụng chữa các bệnh về gan, sốt (sốt hậu sản), chữa đau mắt, quáng gà và đau yết hầu.

Từ lá cây Chó đẻ răng cưa đã phân lập được 4 chất là: acid elagic, acid egalic, 1 dẫn chất phenolic và 1 dẫn chất flavonoid có các nhóm OH ở các vị trí C7 và C4.

Acid egalic có tính kháng khuẩn yếu còn dẫn chất phenolic và flavonoid có tác dụng kháng khuẩn mạnh.

2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của cây chó đẻ răng cưa

Mẫu nghiên cứu là các cây mọc hoang tại vườn thuốc Vân Điền (ngoại thành Hà Nội). Nước sắc có tác dụng với Staphylococcus aureus, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Shigella shiga và Bacillus subtilis.

Chất kháng khuẩn tan nhiều trong metanol, chloroform, etyl acetat và etanol, không tan trong ete dầu hỏa. Hoạt chất bền vững ở nhiệt độ 80-100 độ C, không bị ảnh hưởng bởi pH 2-9; chất chiết từ cây Chó đẻ răng cưa bằng aceton, nồng độ hoạt chất thử 1% có tác dụng kháng khuẩn theo bảng:

Giống vi khuẩn Đường kính vô khuẩn (m/m)
Bacillus mycodes 18
Bacterium pyocyameum 19
Diplococcus pneumoniae 15
Escherichia coli 10
Shigella flexneri 22
Staphylococcus aureus 209P 15

 

Nguyễn Thị Bạch Liên (1978) đã chiết được hỗn hợp các thành phần có tác dụng trong cây Chó đẻ răng cưa, đặt tên là “Coderaxin”. Coderaxin ở nồng độ o,5% có tác dụng diệt các chủng vi khuẩn và nấm: Shigella dysenteriae, Bacillus megatherium, Bacillus subtilis, sarcina lutea, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Bacillus cereus, Bacillus anthracis, Aspergillus fumigatus, cladosporium, penicillium, Candida albicans, Cunularia, Mucor, Cephalosporum

Chó đẻ răng cưa ít độc LD 50 (trên chuột) uống 9520mg/kg, tiêm màng bụng 1605,5mg/kg.

3. Nghiên cứu lâm sàng tác dụng kháng khuẩn của cây chó đẻ răng cưa

Cây chó đẻ răng cưa

Tại viện mắt đã dùng coderaxin 5% làm thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ 10%, thuốc rất ổn định để lâu vẫn giữ được tác dụng điều trị, không gây kích ứng mắt.

Trích “Thuốc Chữa Bệnh Nhiễm Khuẩn Từ Cây Cỏ Trong Nước”

Diếp cá

Cây Diếp cáDiếp cá có nguồn gốc ở Himalaya và phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở nước ta, Diếp cá phổ biến ở trạng thái hoang dại, mọc ở ven các suối, bờ ruộng,… và cững được trồng lấy lá làm gia vị.

1. Kinh nghiệm nhân dân

Diếp cá dùng để chữa đau mắt đỏ, đau mắt do nhiễm khuẩn, lá tươi giả nát, phối hợp với lòng trắng trứng gà để đắp lên mí mắt khi đi ngủ. Để chữa trĩ, đau nhức dùng là Diếp cá nấu nước ngâm, rửa; bã đắp vào chỗ đau. Để chữa bệnh sởi, lấy 30 lá bánh tẻ rửa sạch (có thể sao qua) sắc nước đặc để nguội uống. Chữa viêm ruột, kiết lỵ, viêm thận, phù thận, lá Diếp cá 50g sắc uống. Lá Diếp cá cũng còn dùng làm thuốc điều kinh, trị sốt rét, đau răng và rắn cắn.
Trong Diếp cá có chứa alcaloid (cordalin) flavonoid và tinh dầu.

2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn

Nguyễn Đức Minh và cộng sự (1975) đã thử tác dụng kháng khuẩn 1500 cây thuốc nhận thấy lá Diếp cá có tác dụng với trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) và tụ cầu khuẩn vàng.[106]
Viện mắt trung ương (1977) cũng nhận thấy lá Diếp cá có tác dụng với trực khuẩn mủ xanh (đường kính vòng vô khuẩn đo được 14-18mm).

Trần Ngọc Tiếng và cộng sự (1979) đã dùng cồn etylic 90% để chiết hoạt chất từ lá và cuống lá. Dùng benzen để làm sạch và cô đến dạng cao mềm, gọi là cao ván tinh khiết, cao này được thử tác dụng kháng khuẩn trên tụ cầu vàng
Các tác giả nhận xét rằng: nồng độ ức chế tối thiểu của cao bán tinh khiết là 4mg và nồng độ diệt khuẩn là 5mg

Cây Diếp cá

Cây Diếp cá

3. Nghiên cứu lâm sàng

Viện mắt trung ương đã dùng lá Diếp cá chế thành thuốc nhỏ mắt kết hợp với thuốc tiêu viêm. A đểu điều trị loét giác mạc nhiễm khuẩn mủ xanh (loét giác mạc nhiễm trực khuẩn mủ xanh là một bệnh cấp tính nếu không diều trị kịp thời có thể dẫn đến thủng giác mạc phải khoét bỏ nhãn cầu). Từ năm 1962 đến 1968 đã điều trị cho 81 bệnh nhân loét giác mạc, số bệnh nhân trên chia thành 2 lô:
      – Lô điều trị bằng Diếp cá và tiêu viêm A. 55 bệnh nhân kết quả khỏi 40, không khỏi 15, hết vi khuẩn trong vòng 5 ngày 10 bệnh nhân, từ 11 đế 15 ngày 9 bệnh nhân, trên 16 ngày 11 bệnh nhân (trong nhóm những bệnh nhân không khỏi). Ngày điều trị dưới 20 ngày 10 bệnh nhân, 21-30 ngày 17bn, từ 30-40 ngày 15 bệnh nhân.
      – Lô kết hợp Colistin, streptomycin, argyrol 10%, Diếp cá, tiêu viêm A. 26 bệnh nhân, kết quả khỏi 20, không khỏi 6. Hết vi khuẩn dưới 3 ngày 4 bệnh nhân, 5-10 ngày 15 bệnh nhân, từ 15-20 ngày 3 bệnh nhân, trên 16 ngày 2 bệnh nhân. Không hết vi khuẩn 2 bệnh nhân. Ngày điều trị dưới 20 ngày 7 bệnh nhân, 21-30 ngày 8 bệnh nhân; 31-40 ngày 9 bệnh nhân, trên 40 ngày 2 bệnh nhân.

Trần Liên (1980) đã dùng nước lá Diếp cá (tỷ lệ 1:1) kết hợp với kháng sinh điều trị cho 6o trường hợp viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn, trong đó có 26/60 bệnh nhân (48%) đã có mủ tiền phòng; 53 trường hợp có vết loét từ 3mm đến toàn giác mạc (86,5%)

60 trường hợp đã điều trị khỏi viêm loét song để lại sẹo dầy mỏng khác nhau nên đã ảnh hưởng đến thị lực của bệnh nhân. Nhưng dù sao cũng đả nâng thị lực 22 trường hợp từ sáng tối (+) đên 1 – 8/10

Bệnh nhân đã được điều trị ít nhất là 8 ngày lâu nhất 32 ngày, tổng số ngày điều trị là 1020 ngày.
Diếp cá kết hợp với kháng sinh để điều trị viêm loét giác mạc có kết quả. 485 bệnh nhân đã có mũ tiền phòng kết hợp dùng nước Diếp cá, kháng sinh giảm đi 50% mà bệnh vẫn tiến triển tốt, không có trường hợp nào phải khoét mắt, so với năm 1976 bệnh nhân phải khoét mắt là 5,8%; năm 1977 là 8,3%

4. Một số bài thuốc kinh nghiệm

Trẻ em tiết tả, ỉa nhiều lần, mót dặn dạng kiết lỵ, phân có máu mủ, đỏ hậu môn, hay quấy khóc. Diếp cá 100g, có mực 50g. Hai thứ rửa sạch giã nát, hòa với nước gạn bỏ bã uống.

Sốt xuất huyết: Diếp cá 100g; rau ngót 100g; cỏ mực 50g; rửa sạch vò nước sôi để nguội uống.

Trích “Thuốc Chữa Bệnh Nhiễm Khuẩn Từ Cây Cỏ Trong Nước”

BỒ CU VẼ

Cây Bồ cu vẽ mọc hoang ở khắp nơi miền Bắc và miền Trung nước ta, còn thấy ở Campuchia, Lào, Trung Quốc, Malaixia, Philipin

Bồ cu vẽ

Cây bồ cu vẽ

1. Kinh nghiệm nhân dân về cây Bồ cu vẽ

Lá Bồ cu vẽ giã vắt lấy nước uống, bã đắp vết rắn cắn. Viện ký sinh trùng sốt rét thấy cây này có tác dụng chữa bệnh giun chỉ.

Nhân dân Philipin dùng vỏ cây sắc làm thuốc cầm máu, vì vỏ cây có chất chát, vỏ cây cũng được dùng làm thành bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét và làm chúng chóng khỏi.

Theo Lĩnh nam thái dược lực thì Bồ cu vẽ có thể dùng để rữa vết thịt loét, trị lở sơn, lá có công dụng giải độc và chữa phụ nữ tắc tia sữa.

2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của cây Bồ cu vẽ

Mẫu nghiên cứu thu hái vào mùa hè, vùng ngoại thành Hà Nội. Nhận thấy Bồ cu vẽ có tác dụng với một số loại vi khuẩn kết quả được ghi lại như sau:

Dạng thuốc thử Nồng độ pha loãng Vòng vô khuẩn (mm)
St. aureus B. mycoides B. subtilis
Nước ép cam tươi   0 23 23
Nước chiết 1 : 1 0 20 17
Nước sắc 1 : 1 0 15 17
Dịch chiết cồn 70˚ 1 : 100 18   20
Cao mềm 1 : 1 23 30  
Cao khô 1 : 1 23 40  
Viên nén   28 27  

 

Hoạt chất kháng khuẩn tan được trong nước và trong etanol, không tan trong cloroform, tetra clorua carbon và benzen, lá phơi khô ngoài nắng mất dần tính kháng khuẩn.

Bồ cu vẽ

3. Nghiên cứu lâm sàng

Bùi Kim Cúc và nhiều tác giả (1977) đã dùng một chế phẩm do Trường đại học Dược khoa bào chế dưới dạng cao dán để điều trị mụn nhọt (công thức gồm Cao mềm Bồ cu vẽ, cao mật cóc và Nghệ). Các tác giả đã điều trị cho 30 bệnh nhân (6 người lớn, 24 trẻ em), có 93 nhọt gồm 20 ở lưng mông, 12 ở chi dưới, 1 ở nách, 9 ở chi trên, 30 ở đầu, 8 ở cổ, 5 ở mật.

Đường kính viêm tấy thường thấy là 1 đến 1,5 cm; trường hợp lớn nhất là 2,5 cm. Nhọt ở giai đoạn nổi rõ thành u, đang tấy đỏ, đau, một số ít đã hóa mủ (Không có trường hợp nào đã vỡ mủ). Phần lớn bệnh nhân đau nhức khó chịu, có trường hợp sốt nhẹ, các cháu bé quấy khóc nhiều. Có 10 bệnh nhân nhiều nhọt hoặc nhọt to cho uống thêm cao tiêu viêm (Kim ngân, Bồ công anh, Ké đầu ngựa, Sài đất) kết hợp với B1, C, kết quả thu được như sau:

Loại nhọt Số lượng Khỏi Đỡ Không kết quả
Nhọt đang viêm tấy 65 34 21 10
Nhọt đang sưng mủ 28 11 9 5
Cộng 93 45 30 15

 

  • Khỏi: đối với nhọt viêm tấy, hết viêm, tẹt, chặn được quá trình mưng mủ.

Nhọt đã mưng mủ, hết sưng, đỏ, đau, vùng mưng mủ khu trú lại, nhọt vỡ mủ ra ngòi, và sau đó thành sẹo.

  • Đỡ: Nhọt đang viêm tấy đỡ đau, đỡ viêm nhưng vẫn mưng mủ khu trú lại vỡ mủ và thời gian lành kéo dài.
  • Không kết quả: Sau khi dán một lá cao, trong 3-4 ngày, giảm đau rất ít phải chuyển sang trích nhọt, hoặc dùng thuốc khác.

Thời gian điều trị 5-9 ngày, tỷ lệ khỏi và đỡ 83,8%. Phương pháp điều trị đơn giản, thuốc có hiệu lực cao và không gây phản ứng xấu đối với cơ thể.

Trích “Thuốc Chữa Bệnh Nhiễm Khuẩn Từ Cây Cỏ Trong Nước”